Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Cha tôi trong nỗi nhớ

Nguyễn Tuấn Khoa
Thực ra tôi không được sống gần gũi với cha tôi nhiều, năm tôi sinh ra là năm Kháng chiến toàn quốc. Tháng 11, một loạt sự kiện xáy ra, tôi sinh ra trong những ngày cha tôi chuẩn bị lên đường kháng chiến, nên ông không ở nhà. Ngày 19-12-1946, gia đình tôi về Hải Dương quê nhà, được mấy ngày thì cả gia đình sang Thái Bình. Trước đó, năm 1938, khi cha tôi 21 tuổi thì cả gia đình chuyển lên Hà Nội.
Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm (1917-1950)
Rồi năm 1948, khi gia đình quay về Hải Dương thì cha tôi về thăm nhà, nhân chuyến công tác về vùng địch hậu liên khu III. Bài thơ Chiều mưa đường số 5 ra đời trong những ngày đó. Những dòng thơ cồn cào nhớ nhung vùng Việt Bắc xa xôi:
Chiều mưa ngàn mai nở
Hoa phới bay mùa xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân ...
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch
Ơi núi thẳm rừng sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau ...
Sau này lớn lên tôi mới biết bài thơ đó. Lúc về thăm gia đình, cha tôi có mang theo một cái máy ảnh (lúc này ông là Thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân), nên có chụp một vài kiểu. Đó là kiểu tôi ngồi với ông nội, ảnh riêng tôi (năm ấy khoảng 2, 3 tuổi). Sau đó từ Việt Bắc cha tôi gửi về. Bây giờ tôi vẫn còn giữ những bức ảnh ấy. Đó là lần duy nhất cha con tôi gặp nhau. Năm sau 1949, gia đình tôi chạy tản cư vào Thanh Hóa, thỉnh thoảng có nhận được thư của cha tôi. Thư nào ông cũng hỏi thăm cặn kẽ, chu đáo về tình hình gia đình, các chị.
Ảnh Thâm Tâm chụp con trai Nguyễn Tuấn Khoa, 1948
Nguyễn Tuấn Khoa và ông nội
Cuối năm 1950, ở nhà có nghe tin qua một vài người quen biết, nói rằng cha tôi đã mất, hình như báo chí trong vùng địch hậu cũng đăng tin đó. Tôi nhớ một lần, mẹ tôi bị bệnh thương hàn, thấy các cô chú cứ xì xào nhỏ to chuyện gì đó, mà không cho mẹ tôi biết, thì ra đó chính là tin bố tôi mất. Lớn lên một chút, tôi biết mấy chú ở báo Vệ quốc quân có chuyển về cho gia đình tôi giấy báo tử, thư chia buồn ... Ở giấy báo tử, người ký tên là Hoàng Xuân Tùy. Sau này, khi tôi học ở ĐH Bách Khoa thì ông là Hiệu trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy trường, rồi Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
Khi cha tôi mất, tôi còn bé, tôi cứ hình dung cái chết của cha tôi. Lớn lên, gặp nhà văn Vũ Cao, tôi mới biết được những phút cuối cùng ấy. Ông mất ở một nhà sàn, gần biên giới, trước chiến dịch Biên giới.
Tôi được mẹ tôi và các bác kể về cha tôi nhiều, nhất là khi tôi lớn lên. Tôi luôn tưởng tượng ông là người sống cẩn thận, hơi nghiêm khắc, lạnh lùng, và có lẽ pha một chút ngang tàng như các chú tôi. Vào năm 1940, gia đình ông tôi nghèo túng, lại đông con, nên ông nội tôi làm đủ các nghề để sinh sống, khi đóng sách, khi là ông giáo làng. Lên Hà Nội, gia đình tôi ở số 7 Đội Cung - tức phố Thái Phiên bây giờ. Ngôi nhà gia đình ông tôi ở bây giờ được thay thế bằng ngôi nhà 3 tầng đồ sộ. Cha tôi và mẹ tôi quen nhau ở đây trong những ngày này. Mẹ tôi là công nhân của hãng dệt Phúc Lai (một hãng dệt tư nhân ở Hà Nội), hãng này có nhiều cơ sở. Cơ sở bán hàng mẫu ở phố Huế, mẹ tôi làm ở đây. Tôi nói đôi nét về gia đình mẹ tôi. Gia đình ông ngoại tôi gốc ở Thanh Hóa, nhiều con gái. Mẹ tôi là con út, khi lớn lên các chị gái đều lập gia đình, nên mẹ tôi cũng muốn đi làm sớm. Nhà ông ngoại tôi ở dốc Tam Đa. Mẹ tôi có người chị học cùng với chị bố tôi ở Hải Dương, thấy mẹ tôi bán hàng ở phố Huế liền giới thiệu về nhà ông nội tôi, để đi làm cho gần. Theo mẹ tôi nói, bố tôi đi suốt ngày, mỗi khi về nhà thức rất khuya viết lách, đôi khi vẽ tranh (để bán), bố tôi có khiếu hội họa. Bạn bè bố tôi rất đông, đôi khi về uống rượu bàn chuyện thơ văn ào ạt một lúc rồi đi ngay. Những người quen biết vời gia đình tôi nay còn sống như nhà văn Thanh Châu, ông Ngọc Giao… Hai người bạn thân thiết và tâm đắc của cha tôi là nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ - nhà viết kịch Trần Huyền Trân. Hai ông này không ngày nào không đến nhà tôi. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa vì sao các cụ lại thân nhau đến như vậy, bởi cả ngoài đời và văn phong thật khác nhau.
Cha tôi làm thơ nhiều, nhưng bài Tống biệt hành được mọi người yêu thích hơn cả. Tôi biết bài thơ không phải do khi đi học được dạy mà do bác tôi thường đọc và tôi nhớ. Lúc ấy tôi đâu có biết nó hay hay không hay, mà vì giọng thơ lạ so với những bài thơ khác. Nó không phải nói về nỗi buồn hay chia cách, mà lúc ấy làm sao tôi cảm nhận được, mà cái chính là sự ngang tàng, chí quyết ra đi, coi tất cả sự ràng buộc của các mối quan hệ, tình cảm như hạt bụi, chiếc lá… Năm 1961, trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1930-1945 có in bài thơ. Lần đầu tiên, tôi đọc nó một cách chính thức và đầy đủ.
Viếng mộ Nhà thơ Thâm Tâm ở Quảng Uyên, Cao Bằng
Nhắc đến chuyện thơ ca, tôi nhớ đến một kỷ niệm. Ngày tôi còn bé, bố tôi mất, gia đình tôi được đón lên ATK (An toàn khu Thái Nguyên) ở. Sống cùng với các ông Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, các ông ấy cứ hay hỏi và thử xem liệu tôi có biết làm thơ hay không. Nhưng chẳng hiểu vì sao tôi lại theo con đường khoa học tự nhiên, thỉnh thoảng có viết lách đôi chút cho riêng mình…
Ngoài những bài thơ cha tôi sáng tác, có bài Hai sắc hoa Tigôn cũng thường được mọi người nhắc tới với tên cha tôi. Cũng có người xì xào đó là những câu thơ liên quan đến chuyện tình riêng tư của ông! Đã có lần tôi hỏi ông chú tôi, ông chỉ cười rồi nói: “Đó là chuyện đã lâu rồi…” Tôi hỏi mẹ tôi thì bà nói: “Bố mày làm văn chương chắc có nhiều bạn, cũng có thể có nhiều mối tình…” Tôi không tìm hiểu sâu thêm chuyện này vì nghĩ nếu trong đời có một chuyện tình như vậy, thì cũng là chuyện tình đẹp, dù có ngang trái…
Đọc những bài viết, hồi ức của các nhà văn, nhà thơ bạn cũ của cha tôi, tôi càng thêm quý yêu Người. Tôi cũng rất quý trọng tình cảm của các nhà văn, nhà thơ bạn bè của cha tôi. Tôi muốn có dịp nào đó tổ chức cuộc gặp gỡ có đông đủ bạn bè, các nhà văn, nhà thơ để cảm ơn tấm lòng mọi người với cha tôi. Tôi cũng mong có dịp gặp các anh các chị con nhà thơ Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, đấy là dịp để các con thắp nén hương tưởng nhớ những người cha thân yêu của mình.
PHƯƠNG THẢO ghi
Nguồn: Đặc san Văn nghệ, số 3, năm 1992, trang 11

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Hoa Ti gôn - Truyện ngắn của Thanh Châu


“… Hoa leo ti gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người…” KHÁI HƯNG (Gánh hàng hoa)
Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa ti gôn. Đó là thói quen của họa sư mà không một người bạn hay người học trò thân nào là không biết rõ. Đến mùa hoa ti gôn nở nhiều nhất, trong nhà họa sư Lê người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác. Mà có người nào tẩn mẩn ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem kỹ, họ sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư Lê là đúng: Hoa ti gôn hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuốm máu đào. Rồi người ta phải tự hỏi thầm: “Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi? Chắc lại có điều tâm sự chi đây”.
*
Một buổi trưa – hồi đó Lê Chất hai mươi bốn tuổi, còn là một họa sĩ nghèo mới ở trường ra – một buổi trưa đạp xe về các vùng lân cận Hà Nội, Lê Chất rẽ vào làng Mọc với giá vẽ buộc trên xe. Người thiếu niên ấy đi tìm cảnh vẽ. Mà cảnh đẹp đây là một thiếu nữ chàng mới gặp chiều qua.
Đến gần một ngôi nhà cũ kỹ, trông ra dáng biệt thự của một ông quan hưu dùng làm chỗ nghỉ ngơi, Chất hãm xe, nghễnh cổ nhìn qua một hàng rào cây tốt um tùm. Chiều qua, lúc Chất sắp đạp xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nứa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vầng trán, cảnh “con gái hái hoa” ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi môi có một nét vẻ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy một lần đều in sâu trong trí nhớ. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ hoa trên giàn đã để Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Đến khi cô gái bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt nhìn ra đường thấy có người đứng nhìn mình, mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng.
Nhưng từ hôm đó, hôm nào họa sư cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động trông thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà.
Lê Chất chỉ được trông thấy nàng vài lần nữa rồi thôi bởi ngôi nhà hình như sau đó không có người ở nữa, ngày nào cũng chỉ nhìn thấy có một ông già cuốc cỏ trong vườn.
Rất lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ. Anh cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Anh đã vẽ nhiều croquis cất trong album để ghi giữ lại rồi dần dần cũng quên đi…
Lê Chất đã nổi tiếng. Thầy học cũ của anh vì mến tài, đã đưa anh lên một địa vị mà nhiều người ghen tỵ. Tranh của anh được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán với giá cao: Anh đã bỏ lối phong cảnh để vẽ người. Tranh vẽ người, nhất là tranh vẽ đàn bà đã khiến các bạn Chất tặng cho cái tên: “Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp”. Họa sĩ đã trở nên giàu có, ăn mặc sang, khó tính. Lê Chất bây giờ đã đứng tuổi, từ lâu không còn là gã họa sĩ nghèo huýt sáo đạp xe quanh vùng lân cận Hà Thành đi tìm cảnh đẹp, với giá vẽ buộc trên xe đạp.
Mùa lạnh năm ấy, Lê Chất đi vẽ ở một vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi của tòa lãnh sự Pháp, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ ta, đẹp một vẻ khác thường, nhưng có dáng buồn. Chất bỗng ngờ ngợ như hơn một lần đã gặp người này. Ở đâu? Chất giật mình. Có thể nào? Nhưng quên làm sao được khuôn mặt ấy, đôi môi ấy? Nhờ một người quen giới thiệu, Chất được rõ: Thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự.
Trong khi nhảy với thiếu phụ một bản tăng-gô, Lê Chất đột nhiên hỏi:
- Bà vẫn thích hái hoa ti gôn chứ?
Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên:
- Ông nói gì… tôi không hiểu.
- Có lẽ bà đã quên Hà thành, làng Mọc, cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa…
Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh:
- Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn nhìn trộm tôi ngày trước đó không?
Nàng nói tiếp:
- Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng tự nghĩ không biết đã gặp ở đâu rồi. Tám chín năm rồi đấy, thế mà chúng ta còn nhận được nhau…
Mai Hạnh – tên thiếu phụ – rất buồn ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn. Lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà mình, cuộc đời nàng bằng phẳng nơi đất khách. Bây giờ gặp được người cùng xứ, người đó lại đã dự vào dĩ vãng tươi đẹp của mình, một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được? Hạnh thường đến chỗ họa sĩ trọ, thăm viếng mỗi ngày, và thuận cho chàng vẽ một bức chân dung.
Một buổi sáng, hai người đi chơi, trên một ngôi chùa Tàu cheo leo đỉnh núi, Lê Chất nói:
- Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì không bao giờ tôi quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể thành đôi bạn thôi ư? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không?
Mai Hạnh, giọng run run tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất. Nhưng khi Chất đã ôm nàng thì Hạnh không cưỡng lại:
- Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu.
Thế là, hai người như sống trong một cơn mê.
Mai Hạnh cố chống chọi lại với tình yêu mỗi ngày một lớn, còn Lê Chất thì lo ngại, tính toán như ngồi trên đống lửa. Chàng định cùng Hạnh trốn đi Nhật, không cần danh dự, chức nghiệp, dư luận của người đời. Nhưng Mai Hạnh tuy yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại sau cùng cũng nhận lời.
Lê Chất trở về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc, lo lót giấy tờ tiền bạc, đồ dùng đi xa, tất cả đã sẵn sàng, thì phút cuối cùng nhận được thư của Hạnh: “Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không có thể theo anh. Đừng giận em tội nghiệp, em không phải là loại đàn bà có thể vượt được hết những khó khăn như anh đã tưởng. Đến phút cuối cùng, em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai… Em thấy rằng: nếu đi với nhau chưa chắc chúng ta đã sung sướng. Anh thấy chưa? Em là một đứa hèn! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hy sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện, anh có thể quên em được đấy! Nhưng còn em thì chẳng bao giờ, chẳng bao giờ! Vì em biết em sẽ không bao giờ tự an ủi được, bởi em đã làm hỏng đời em, nếu em chẳng theo anh…”
Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra: những nụ hoa chum chúm hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu đào.
Lê Chất đặt một cái hôn trên những cánh hoa, và khóc. Nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực. Chàng đi du lịch xứ Phù Tang có một mình.
*
Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn giấy mình một phong thư viền đen báo tang. Ông mở ra xem thì đó là của người chồng Mai Hạnh báo tin nàng đã chết.
Họa sư đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa quen thuộc. Rồi trở về Hà Nội, ông mới sực nhớ ra rằng đã quên không hỏi xem Mai Hạnh đã chết vì một bệnh gì, một cơn cảm sốt…, hay vì sầu muộn…
Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già, nhưng cứ đến mùa hoa ti gôn nở, không buổi sáng nào ông quên mua một ôm về thay thế hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.
Thanh Châu
Chân dung Nhà văn Thanh Châu